Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ Công chứng viên trong sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế, xã hội

Thứ năm - 23/04/2026 10:49
Chức năng xã hội của công chứng viên là bảo đảm tính an toàn pháp lý, ngăn ngừa tranh chấp, giảm thiểu rủi ro cho các hợp đồng, giao dịch, qua đó bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Công chứng là dịch vụ công do công chứng viên thực hiện, công chứng viên được coi như thẩm phán phòng ngừa, hạn chế các tranh chấp phát sinh trong các giao dịch dân sự được công chứng. Giao dịch được công chứng luôn đảm bảo tính “xác thực, hợp pháp”. Từ đó, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu công chứng, bảo đảm cho sự ổn định và phát triển kinh tế.
Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ Công chứng viên trong sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế, xã hội

Trong những năm qua, hoạt động công chứng có rất nhiều thay đổi. Bên cạnh nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động công chứng, việc xã hội hóa hoạt động công chứng cũng tác động rất nhiều đến chất lượng của đội ngũ công chứng viên hiện nay.

Hoạt động công chứng đang có xu hướng phát triển rất nhanh. Điều này được thể hiện thông qua việc thành lập các tổ chức hành nghề công chứng và số lượng công chứng viên được bổ nhiệm đều tăng so với các năm liền kề. Hoạt động công chứng thời gian qua có nhiều đóng góp trong việc ổn định kinh tế và trật tự xã hội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu công chứng. Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động công chứng cũng còn một số hạn chế, tồn tại. Những hạn chế, tồn tại đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính bắt nguồn từ chất lượng đội ngũ công chứng viên hiện nay chưa bảo đảm những yêu cầu của thời kỳ đổi mới. Do đó, để hoạt động công chứng ổn định và phát triển, cần có giải pháp “Nâng cao chất lượng đội ngũ công chứng viên” trong sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế, xã hội.

  1. Một số kết quả đạt được của hoạt động công chứng kể từ khi thực hiện xã hội hóa hoạt động công chứng
  1. Về số lượng công chứng viên

          Trước đây, hoạt động công chứng đơn thuần được coi là công việc hành chính, được thực hiện bởi các cơ quan hành chính nhà nước (Phòng Công chứng). Công chứng viên hầu hết là công chức, viên chức nhà nước, được bổ nhiệm để thực hiện chức năng chứng nhận các giao dịch dân sự. Năm 2006, Luật Công chứng đầu tiên được ban hành, đây được coi là mốc thời gian quan trọng đối với hoạt động công chứng. Luật Công chứng năm 2006 là văn bản pháp luật đầu tiên thực hiện xã hội hóa hoạt động công chứng. Bên cạnh các công chứng viên hành nghề tại các Phòng Công chứng (đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Tư pháp), pháp luật có quy định công chứng viên hành nghề tại các Văn phòng công chứng.

Trước Luật Công chứng năm 2006, cả nước có khoảng 393 công chứng viên làm việc tại 131 Phòng công chứng, được phân bố tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong cả nước[1]. Tính đến thời điểm tổng kết việc thực hiện Luật Công chứng năm 2006, số lượng công chứng viên khoảng 1.180 công chứng viên. Theo số liệu thống kê đến ngày 04/12/2025, số lượng công chứng viên khoảng 3.712 công chứng viên[2], tăng 2.532 công chứng viên so với thời điểm thực hiện tổng kết Luật Công chứng năm 2006.

Thời gian vừa qua, sự phát triển của đội ngũ công chứng viên cơ bản đã góp phần giải quyết các yêu cầu chứng nhận các giao dịch của người dân và doanh nghiệp. Hầu hết các văn bản được công chứng viên chứng nhận luôn đảm bảo được tính “xác thực, hợp pháp”, từ đó bảo đảm quyền và lợi ích cho các chủ thể tham giao giao dịch. Điều này được thể hiện qua tổng kết sáu năm thực hiện Luật Công chứng năm 2014, các tổ chức hành nghề công chứng đã công chứng được hơn 24 tỷ việc; chứng thực được gần 39 triệu việc; tổng số phí công chứng thu được khoảng hơn 7 nghìn tỷ đồng; phí chứng thực thu được khoảng gần 300 triệu đồng; tổng số thù lao công chứng thu được hơn 1,1 nghìn tỷ đồng, số tiền nộp thuế vào ngân sách nhà nước là trên 1.400 tỷ đồng[3].

          b. Về chất lượng công chứng viên

        Thực hiện cải cách tư pháp là một trong các nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước; trong đó, việc nâng cao chất lượng công chứng viên để đáp ứng yêu cầu của xã hội cũng đồng thời đảm bảo triển khai thực hiện nhiệm vụ cải cách tư pháp. Chất lượng đội ngũ công chứng viên trong những năm qua không ngừng được nâng cao. Điều này thể hiện rõ nét nhất ở điều kiện, tiêu chuẩn bổ nhiệm công chứng viên qua các thời kỳ ngày càng được quy định chặt chẽ.

        Nếu Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ quy định về tiêu chuẩn bổ nhiệm công chứng viên chỉ cần đáp ứng điều kiện “Là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam; Có bằng cử nhân Luật và chứng chỉ tốt nghiệp khoá đào tạo nghề công chứng; Có phẩm chất đạo đức tốt[4] thì đến Luật Công chứng năm 2006, quy định tiêu chuẩn để bổ nhiệm công chứng viên đã có sự thay đổi “Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt và có đủ các tiêu chuẩn sau đây thì được xem xét, bổ nhiệm làm công chứng viên: Có bằng cử nhân luật; Có thời gian công tác pháp luật từ năm năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức; Có Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng; Đã qua thời gian tập sự hành nghề công chứng; Có sức khoẻ bảo đảm hành nghề công chứng[5]. Luật Công chứng năm 2014 đã thay đổi một số tiêu chuẩn để nâng cao hơn chất lượng đội ngũ công chứng viên: “Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt; có bằng cử nhân luật; Có thời gian công tác pháp luật từ 05 năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức sau khi đã có bằng cử nhân luật; Tốt nghiệp khóa đào tạo nghề công chứng quy định tại Điều 9 của Luật này hoặc hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề công chứng quy định tại khoản 2 Điều 10 của Luật Công chứng; Đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng; Bảo đảm sức khỏe để hành nghề công chứng”. Hiện nay, Luật Công chứng năm 2024, tiêu chuẩn để bổ nhiệm công chứng viên đã cụ thể, rõ ràng hơn: “Là công dân Việt Nam không quá 70 tuổi; Thường trú tại Việt Nam, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt và bảo đảm sức khỏe để hành nghề công chứng; Có bằng cử nhân luật hoặc thạc sĩ luật hoặc tiến sĩ luật; Có thời gian công tác pháp luật từ đủ 03 năm trở lên tại cơ quan, tổ chức sau khi có bằng cử nhân luật hoặc thạc sĩ luật hoặc tiến sĩ luật; Tốt nghiệp khóa đào tạo nghề công chứng; Đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng”[6].

        Hiện nay, các công chứng viên được bổ nhiệm đều có trình độ cử nhân luật trở lên; đều trải qua quá trình đào tạo, bồi dưỡng, tập sự hành nghề công chứng và đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng. Từ đó việc chứng nhận giao dịch của công chứng viên cơ bản đảm bảo tính xác thực và hợp pháp, đúng quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về công chứng nói riêng.  

2. Một số những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

a. Những tồn tại, hạn chế

Hoạt động công chứng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an toàn pháp lý đối với các giao dịch. Tuy nhiên, thực tiễn thời gian qua vẫn tồn tại một số trường hợp công chứng viên vi phạm đạo đức hành nghề công chứng, vi phạm pháp luật trong quá trình hành nghề, thực hiện việc chứng nhận hợp đồng giao dịch. Điều này đã gây ảnh hưởng ít nhiều đến uy tín của nghề công chứng cũng như quyền, lợi ích của người tham gia giao dịch.

Trên thực tế, các hình thức vi phạm rất đa dạng. Đó có thể là việc một số công chứng viên thực hiện mở chi nhánh Văn phòng công chứng để tiếp nhận và giải quyết hồ sơ, giao dịch ngoài trụ sở. Hay chẳng hạn tình trạng quảng cáo dịch vụ công chứng không phù hợp quy định pháp luật như trích, chia “hoa hồng” cho các đối tác, miễn giảm giá dịch vụ yêu cầu công chứng[7]. Các hiện tượng này đi ngược với tính minh bạch và công bằng khi hành nghề công chứng.

Ngoài ra, trong thời gian vừa qua, nhiều công chứng viên còn bị khởi tố do lợi dụng chức vụ, quyền hạn hay thiếu trách nhiệm trong khi hành nghề. Chẳng hạn như: ngày 20/8/2024, Bộ Công an cho biết Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với công chứng viên TTN về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ;[8] Ngày 10/12/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với công chứng NDT để điều tra về tội "thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng"[9]; Ngày 05/4/2021, Công an tỉnh Quảng Nam đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam bốn tháng đối với công chứng viên B.V.A để điều tra về hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng[10]; Ngày 04/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Thuận đã thực hiện lệnh bắt tạm giam P.V.T để điều tra về tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng[11]. Những sự việc trên cho thấy nguy cơ lạm dụng quyền hạn và sự thiếu chuẩn mực của công chứng viên trong quá trình hành nghề vẫn còn tồn tại.

Bên cạnh đó, thông qua hoạt động thanh, kiểm tra của các cơ quan có thẩm quyền, hơn 2.000 tổ chức hành nghề công chứng đã bị phát hiện nhiều vi phạm và hơn 700 quyết định xử phạt tổ chức hành nghề công chứng và công chứng viên đã được ban hành, tước quyền sử dụng Thẻ công chứng viên 06 trường hợp[12]. Điều này ít nhiều đã phản ánh mức độ, nội dung của các hành vi vi phạm từ các vi phạm về đạo đức, vi phạm trong thủ tục đến các vi phạm ảnh hưởng đến tính hợp pháp của giao dịch.

Hơn thế nữa, không ít trường hợp công chứng viên vi phạm trình tự, thủ tục công chứng dẫn đến giao dịch bị tuyên vô hiệu như: Bản án số: 523/2018/DS-ST ngày 25/5/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố tuyên hủy văn bản công chứng và buộc tổ chức hành nghề công chứng phải bồi thường thiệt hại liên quan đến việc chứng nhận hợp đồng, giao dịch, với số tiền 400.000.000 đồng[13]. Bản án hình sự sơ thẩm số: 376/2019/HSST ngày 09/10/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cũng tuyên buộc tổ chức hành nghề công chứng phải bồi thường 4,9 tỷ đồng[14]. Các bản án đã phần nào cho thấy hậu quả nghiêm trọng khi công chứng viên không tuân thủ đúng quy trình, thủ tục làm phát sinh trách nhiệm bồi thường và ảnh hưởng đến niềm tin của xã hội đối với hoạt động công chứng.

b. Nguyên nhân

Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại nêu trên bắt nguồn từ nhiều khía cạnh khác nhau. Cơ bản, có thể kể đến một số nguyên nhân sau đây:

Thứ nhất, quy định về độ tuổi để bổ nhiệm công chứng viên.

 Luật Công chứng năm 2024 quy định về độ tuổi bổ nhiệm công chứng viên là không quá 70 tuổi. Quy định về độ tuổi để bổ nhiệm công chứng viên như hiện nay theo tác giả là còn cao. Thực chất, một trong các yêu cầu đối với công chứng viên khi hành nghề công chứng đòi hỏi là cần có sự nhanh nhạy, tỉ mỉ trong công việc, thường xuyên phải cập nhập những quy định của pháp luật mới để áp dụng vào việc chứng nhận giao dịch. Tuy nhiên, nhiều vi phạm trong quá trình hành nghề lại xuất phát từ các công chứng viên lớn tuổi. Ví dụ như công chứng viên B.V.A (71 tuổi), công chứng viên TTN (68 tuổi). Điều này đặt ra vấn đề về khả năng bảo đảm tính pháp lý đối với các giao dịch cũng như nghĩa vụ bồi thường khi xảy ra sai sót. Như vậy, độ tuổi để bổ nhiệm công chứng viên như hiện nay có thực sự phù hợp với yêu cầu của nghề nghiệp khi ngày càng có nhiều nội dung cần cập nhật, đặc biệt về chuyển đổi số trong hoạt động công chứng?.

Thứ hai, về kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng.

Trước đây, Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ quy định tiêu chuẩn để bổ nhiện công chứng viên không quy định về tập sự hành nghề công chứng. Qua nhiều thay đổi của các văn bản pháp luật, đến Luật công chứng năm 2024, một trong các tiêu chuẩn để bổ nhiệm công chứng viên là “đạt kết quả kiểm tra tập sự hành nghề công chứng”. Hình thức kiểm tra tập sự hành nghề công chứng được quy định tại Thông tư số: 06/2025/TT-BTP ngày 15/5/2025 sẽ có hai hình thức: kiểm tra bao gồm bài kiểm tra viết (thời gian 180 phút) và bài kiểm tra trắc nghiệm trên máy vi tính (thời gian 60 phút)[15]. Tuy nhiên, với thời gian tập sự 12 tháng, nội dung tập sự nhiều và đa dạng[16] nên hình thức kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng như hiện nay chưa đánh giá toàn diện được kết quả của một quá trình tập sự cũng như năng lực của người tập sự.

Thứ ba, về thời gian công tác pháp luật để bổ nhiệm công chứng viên.

Theo quy định hiện nay, một trong những điều kiện để bổ nhiệm công chứng viên là có thời gian công tác pháp luật từ 03 năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức sau khi đã có bằng cử nhân luật”. Trước Luật công chứng 2024, hầu hết các văn bản pháp luật quy định về tiêu chuẩn công tác pháp luật để bổ nhiệm công chứng viên đều là 05 năm. Việc rút ngắn thời gian công tác pháp luật 03 năm như hiện nay chưa đảm bảo trang bị đủ kiến thức về chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn để được bổ nhiệm công chứng viên. Bởi vì, khối lượng kiến thức để áp dụng vào trong thực tiễn hoạt động công chứng là rất lớn, đòi hỏi người được bổ nhiệm có sự am hiểu toàn diện các quy định của pháp luật. Do đó, thời gian công tác pháp luật ngắn sẽ là một trong những hạn chế về năng lực hành nghề.

Thứ tư, bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chứng viên chưa đảm bảo về thời gian và đánh giá chất lượng bồi dưỡng kiến thức.

Luật Công chứng năm 2024 quy định, hàng năm công chứng viên phải tham gia khóa bồi dưỡng nghiệp vụ. Nội dung bồi dưỡng công chứng viên sẽ được tiếp cận các kiến thức về “Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng; Cập nhật, bổ sung kiến thức pháp luật về công chứng và các quy định pháp luật khác có liên quan; Kỹ năng hành nghề công chứng; kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động công chứng; các kỹ năng bổ trợ cho hoạt động hành nghề công chứng; Kỹ năng quản lý, tổ chức và điều hành tổ chức hành nghề công chứng[17]. Thời gian tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ tối thiểu là 02 ngày làm việc/năm[18]. Có thể nói, việc tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chứng viên rất quan trọng. Thông qua các đợt bồi dưỡng, công chứng viên được cập nhập kiến thức của pháp luật liên quan đến hoạt động công chứng nói chung và đạo đức hành nghề công chứng nói riêng. Tuy nhiên, hiện nay với quy định về thời gian tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ tối thiểu là 02 ngày làm việc/năm là còn quá ít so với khối lượng kiến thức mà công chứng viên cần tiếp cận. Lấy ví dụ: Luật Nhà ở năm 2023, luật Kinh doanh bất động sản năm 2024: Luật Đất đai năm 2024, Luật Công chứng năm 2024, Luật Các tổ chức tín dụng 2024 được quốc hội thông qua. Với khối lượng lớn các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành, thời lượng 02 ngày theo quy định nêu trên sẽ không đủ đảm bảo cho công chứng viên cập nhập kiến thức mới về pháp luật liên quan đến hoạt động công chứng.

Mặt khác, thực tế cho thấy, tình trạng tham gia các lớp bồi dưỡng của công chứng viên thường mang tính hình thức. Công chứng viên tham gia các lớp bồi dưỡng này chủ yếu để đảm bảo đúng quy định của pháp luật, ít quan tâm đến nội dung bồi dưỡng; trong khi đó, pháp luật chưa có cơ chế kiểm soát chất lượng tiếp thu kiến thức. 

Thứ tư, công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm

Hoạt động công chứng là một trong những lĩnh vực tương đối phức tạp. Hiện nay, hoạt động công chứng đã phát triển ở hầu hết các địa phương. Do đó, công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động công chứng cũng gặp phải nhiều khó khăn. Thanh tra, kiểm tra hoạt động công chứng hiện nay chủ yếu là theo kế hoạch. Hoạt động thanh tra, kiểm tra thông thường được thực hiện qua việc kiểm tra hồ sơ đã được công chứng. Qua việc kiểm tra và đánh giá hồ sơ không thể nào phát hiện được cả quy trình hành nghề công chứng công chứng viên. Thực tế cho thấy các vụ việc vi phạm trong hành nghề công chứng nêu trên hầu hết do có khởi kiện ra tòa hoặc người dân phát hiện, phản ánh. Ngoài ra, chưa có sự phối hợp chặt chẽ trong việc thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động hành nghề công chứng giữa các cơ quan thanh tra nhà nước, cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên. Do đó, để bảo đảm công chứng viên nâng cáo chất lượng của công chứng viên trong quá trình hành nghề cũng cần có các giải pháp đồng bộ trong vấn đề thanh kiểm tra hoạt động công chứng.

3. Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chứng viên hiện nay

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và yêu cầu ngày càng cao đối với hoạt động công chứng, việc nâng cao chất lượng đội ngũ công chứng viên trở thành nhiệm vụ cấp thiết. Công chứng viên không chỉ đóng vai trò là người chứng nhận tính xác thực của giao dịch mà còn là nhân tố quan trọng bảo đảm sự minh bạch, an toàn pháp lý trong đời sống xã hội. Do đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chứng viên như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện quy định của pháp luật về tiêu chuẩn bổ nhiệm công chứng viên.

- Hoàn thiện về tiêu chuẩn độ tuổi bổ nhiệm công chứng viên

Theo khoản 1 Điều 10 Luật Công chứng 2024, một trong các tiêu chuẩn để bổ nhiệm công chứng viên “là công dân Việt Nam không quá 70 tuổi”. Tuy nhiên, xét đặc thù nghề nghiệp, quy định này chưa phù hợp. Việc hành nghề công chứng đòi hỏi công chứng viên cần có sự tỉ mỉ, nhanh nhạy để xử lý công việc, xử lý tình huống, xử lý hồ sơ, đặc biệt liên quan đến nhận diện giấy tờ thật giả trong hoạt động công chứng và cần nắm bắt sự đổi mới của công nghệ để áp dụng, thực hiện hoạt động công chứng điện tử. Bên cạnh đó, trách nhiệm pháp lý cũng như nghĩa vụ bồi thường của công chứng viên cũng đặt ra yêu cầu cao về năng lực và sự minh mẫn.

Mặt khác, theo pháp luật về lao động hiện nay, độ tuổi nghỉ hưu được quy định như sau: “Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035. Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với lao động nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với lao động nam và 04 tháng đối với lao động nữ[19]. Đối với quy định nêu trên, tiêu chuẩn về độ tuổi để xem xét bổ nhiệm công chứng viên theo quy định hiện này chưa tương thích. Theo tác giả, cần dựa trên những quy định của pháp luật lao động quy định về độ tuổi nghỉ hưu và đặc thù của nghề công chứng để đưa ra độ tuổi phù hợp. Do đó, tác giả để xuất, độ tuổi phù hợp để được bổ nhiệm công chứng viên là không quá 65 tuổi đối với nam và 60 đối với nữ.

- Hoàn thiện về đánh giá kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng

Hiện nay, hình thức kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng bao gồm bài kiểm tra viết trong thời gian 180 phút và bài kiểm tra trắc nghiệm trên máy vi tính trong thời gian 60 phút[20]. Hình thức kiểm tra theo quy định trên chưa phản ánh đầy đủ năng lực của người tập sự hành nghề công chứng, dẫn đến hệ quả người được bổ nhiệm công chứng viên trong khi kiến thức và kinh nghiệm hành nghề công chứng chưa “đủ chín”. Thiết nghĩ, pháp luật cần có quy định chặt chẽ hơn nữa để đảm bảo chất lượng của công chứng viên. Do đó, tác giả đề xuất, việc kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng cần kết hợp giữa hình thức kiểm tra viết, trắc nghiệm và vấn đáp để đánh giá tổng quan, toàn diện năng lực của người tập sự.

- Hoàn thiện tiêu chuẩn về thời gian công tác pháp luật

Trước Luật công chứng năm 2024, hầu hết các văn bản pháp luật quy định về tiêu chuẩn công tác pháp luật để bổ nhiệm công chứng viên đều phải 05 năm[21]. Đến Luật công chứng 2024, tiêu chuẩn về thời giang công tác pháp luật để bổ nhiệm công chứng viên đã được rút ngắn lại còn 03 năm[22]. Hiện nay, các quy định pháp luật cần áp dụng vào trong thực tiễn hoạt động công chứng là rất lớn. Theo tác giả, thời gian công tác pháp luật 03 năm chưa đủ để tích lũy kinh nghiệm, trang bị kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ cũng như kỹ năng để bổ nhiệm công chứng viên. Do đó, về quy định về tiêu chuẩn thời gian công tác pháp luật để bổ nhiệm công chứng viên, tác giả đề xuất giữ nguyên những quy định trước đây, cụ thể thời gian công tác pháp luật là tối thiểu phải 05 năm để bảo đảm công chứng có nền tảng vững chắc trước khi hành nghề.

Thứ hai, hoàn thiện quy định về bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chứng viên hàng năm

Do khối lượng kiến thức pháp luật cần bồi dưỡng hàng năm nhiều và cần cập nhật liên tục nên nếu quy định thời gian tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ như quy định hiện nay (tối thiểu là 02 ngày làm việc/năm) là chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Theo tác giả, thời gian tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ hàng năm cho công chứng viên phải tối thiểu 05 ngày làm việc/năm. Đồng thời, khi kết thúc các đợt bồi dưỡng, các công chứng viên cần viết bài thu hoạch để kiểm tra lại kiến thức đã được bồi dưỡng. Cách làm này cơ bản hạn chế tình trạng tham gia bồi dưỡng theo hình thức mà không đảm bảo chất lượng nội dung bồi dưỡng cho công chứng viên.

Thứ ba, hoàn thiện các quy định về công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động công chứng

Thanh, kiểm tra và giám sát hoạt động công chứng là một trong các công cụ góp phần nâng cao chất lượng hành nghề của công chứng viên. Do đó, tác giả đề xuất một số nội dung cụ thể như sau:

- Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra; phải xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra đa dạng, phong phú để đảm bảo chất lượng hoạt động thanh tra, kiểm tra.

- Nâng cao trách nhiệm trong hoạt động giám sát việc hành nghề của công chứng viên; kịp thời phát hiện và xử lý những vi phạm liên quan đến việc hành nghề công chứng; khen thưởng các công chứng viên có phẩm chất và đạo đức hành nghề gương mẫu.

- Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan thanh tra, cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên trong việc thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động hành nghề công chứng.

- Dựa vào chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động công chứng cần được xây dựng kế hoạch, phương án cụ thể để đảm bảo công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát có hiệu quả.

          KẾT LUẬN

Hoạt động công chứng góp phần ổn định xã hội, tạo động lực cho việc phát triển kinh tế. Việc nâng cao chất lượng đội ngũ công chứng viên không chỉ phụ thuộc vào năng lực cá nhân mà còn gắn liền với hệ thống quy định pháp luật, cơ chế đào tạo – bồi dưỡng và công tác quản lý, giám sát. Bản thân công chứng viên khi hành nghề đã được xã hội tin tưởng như những “thẩm phán phòng ngừa” các tranh chấp phát sinh trong giao dịch dân sự. Để các giao dịch đảm bảo tính “xác thực, hợp pháp”, đòi hỏi công chứng viên cần hội tụ đầy đủ kiến thức pháp luật và đạo đức hành nghề công chứng. Để chất lượng của đội ngũ công chứng viên được nâng cao, bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động công chứng, việc thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu trên là điều cần thiết nhằm đảm bảo cho chất lượng của đội ngũ công chứng viên luôn đáp ứng những yêu cầu trong sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế, xã hội./.

ThS. Đặng Văn Dinh

Giảng viên Học viện Tư pháp


[2] Báo cáo kết quả hoạt động năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2026 của Hiệp Hội Công chứng Việt Nam

[3] https://baochinhphu.vn/nhung-gam-mau-sang-toi-trong-hoat-dong-cong-chung-102299379.htm

[4] Điều 30 Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000

[5] Điều 13 Luật Công chứng 2006

[6] Điều 10 LCC 2024

[8] https://baoangiang.com.vn/bat-nguyen-truong-van-phong-cong-chung-truong-thi-nga-a403350.html

[9] https://tuoitre.vn/cong-an-tp-hcm-bat-cong-chung-vien-trong-vu-lua-ban-dat-gay-thiet-hai-15-7-ti-dong-20241210163014378.htm

[12] https://quochoi.vn/tintuc/Pages/goc-nhin.aspx?ItemID=85748

[13] Bản án số 523/2018/DS-ST ngày 25/5/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

[14] Bản án hình sự sơ thẩm số 376/2019/HSST ngày 09/10/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và xem thêm https://plo.vn/phap-luat/cong-chung-vien-bi-toa-buoc-boi-thuong-ca-ti-dong-868892.html.

[15] Khoản 2 Điều 15 Thông tư số 06/2025/TT-BTP ngày 15/5/2025

[16] Điều 5 Thông tư số 06/2025/TT-BTP ngày 15/5/2025

[17] Khoản 1 Điều 7 Thông tư 05/2025/TT-BTP ngày 15/5/2025

[18] Khoản 1 Điều 9 Thông tư 05/2025/TT-BTP ngày 15/5/2025

[19] Khoản 2 Điều 169 Bộ luật lao động 2019.

[20] Khoản 2 Điều 15 Thông tư số 06/2025/TT-BTP ngày 15/5/2025

[21] Điểm d, khoản 1 Điều 30 Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000, điểm b, khoản 1 Điều 13 Luật Công chứng 2006 và khoản 2 Điều 8 Luật Công chứng 2014.

[22] Khoản 4 Điều 10 Luật Công chứng 2024

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Video
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây